Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

9 điều thiết yếu để bán hàng được thành công


8. Rời vùng an toàn. Thay đổi là điều tốt. Hạt giống tăng trưởng và phát triển chỉ xuất hiện khi bạn tìm kiếm nó. Hãy rời vùng an toàn, dũng cảm đương đầu với thử thách, thay đổi để tốt đẹp và thành công hơn.

Trích sách ghi chép lời khuyên của một chuyên gia bán hàng
1. Tìm định nghĩa thành công của riêng bạn. Rồi vẽ ra bản đồ từng bước tiến đến mục tiêu cao nhất đó. Có một mẫu số chung cho sự thành công là: lao động chăm chỉ.
2. Nắm bắt quy trình bán hàng. Theo lời một trong những chuyên gia bán hàng thì: “Giao dịch bán thành công khi có sự trao đổi cảm xúc và người bán khiến đối phương đưa ra quyết định mua”.
3. Biết 4 yếu tố quyết định kết quả giao dịch. Một, nền tảng giá trị vững chắc. Hai, số lượng người mình nhắm đến. Ba, chất lượng của bài giới thiệu sản phẩm. Bốn, phẩm chất của khách hàng tiềm năng.
4. Tin vào “quy luật bù trừ”. Hết khổ thì tới sướng. Sướng xong sẽ lại khổ. Cứ như thế là vòng tròn khép kín. Trong văn hóa kinh doanh, tin tưởng điều này sẽ giúp bạn cân bằng lúc khó khăn cũng như khi thuận lợi. Điều quan trọng đối đối với nhân viên bán hàng là gặp càng nhiều người để tăng doanh số.
5. Điều khiển tâm lý. Khi bán hàng, dĩ nhiên có lúc này lúc nọ, lúc ít lúc nhiều. Vậy nên, hãy luôn hướng đến những suy nghĩ tích cực để dạt dào cảm hứng và tươi vui.

6. Liên tục đổi mới và hướng đến sự tiến bộ. Thức dậy mỗi sáng, bạn hãy tự hỏi mình có thể làm gì để cho việc bán hàng của cá nhân và hoạt động của toàn doanh nghiệp tốt hơn lên.
7. Nghĩ xa. Đừng bao giờ giới hạn mơ ước và sức sáng tạo. Đừng ngại nghĩ đến những điều to tát có sức ảnh hưởng lớn lao.
8. Rời vùng an toàn. Thay đổi là điều tốt. Hạt giống tăng trưởng và phát triển chỉ xuất hiện khi bạn tìm kiếm nó. Hãy rời vùng an toàn, dũng cảm đương đầu với thử thách, thay đổi để tốt đẹp và thành công hơn.
9. Cam kết thực hiện mục tiêu. Lập mục tiêu bán hàng là một trong những khâu quan trọng nhất của hệ thống bán hàng. Khi lập mục tiêu, hãy viết ra giấy, ghi cụ thể các bước đi để hoàn thành mục tiêu và kết quả. Lập những mục tiêu cao và thấp khác nhau. Tăng mục tiêu dần dần.

Các nguyên tắc tạo khẩu hiệu ấn tượng

Thay cho những từ này, hãy thể hiện những giá trị, lợi ích cụ thể và có sức thuyết phục mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng” - Jasmine Tanasy, Giám đốc quảng cáo và đặt tên nhãn hiệu của Công ty Landor (từng hỗ trợ cho nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Tide và Frito-Lay) nhìn nhận.


Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể mất hàng giờ đồng hồ giam mình trong phòng cùng với các chuyên gia viết quảng cáo để đi tìm một câu khẩu hiệu ấn tượng cho công ty của mình nhưng nhiều khi chẳng thể tìm được ý tưởng thú vị nào.
Một số chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tiếp thị cho rằng nguồn cảm hứng để sáng tác câu khẩu hiệu thường đến ở những nơi rất kỳ lạ và những lúc mà người ta ít nghĩ đến nhất. Các chuyên gia này đưa ra một số nguyên tắc mới dưới đây giúp doanh nghiệp sáng tạo một câu khẩu hiệu có sức hấp dẫn khách hàng.
1.Tin vào sự tình cờ. “Một điều khá thú vị là hầu hết các câu khẩu hiệu đều được ra đời một cách rất tình cờ. Bạn luôn có vài câu khẩu hiệu mà bạn nghĩ là tuyệt vời nhưng khi chuẩn bị viết một kịch bản quảng cáo hoặc khi nói chuyện với một số chuyên gia làm quảng cáo, bạn có thể dễ dàng thay đổi ý định của mình nhưng lại chẳng biết nên làm mới từ đâu.
Đừng nên tạo áp lực cho chuyên gia viết quảng cáo trong việc sáng tác câu khẩu hiệu vì đây thật sự là một vấn đề lớn” - Joe Alexander, Giám đốc sáng tạo của Martin Agency khuyên như vậy. Alexander là tác giả của một số câu khẩu hiệu nổi tiếng, chẳng hạn What can brown do for you? (Màu nâu có thể làm gì cho bạn?) của UPS.
2.Tạo ra cảm xúc cho khách hàng. “Tôi rất thích những câu khẩu hiệu gợi ra nhiều cảm xúc. Câu khẩu hiệu lớn nhất của chúng tôi là What happens here, stays here (Điều gì xảy ra ở đây thì sẽ ở lại đây).Câu khẩu hiệu này gợi ra tình huống chúng ta đang đi trên đường và làm những chuyện mà bình thường chúng ta không làm.
Câu khẩu hiệu Zoom Zoom của Mazda làm cho chúng ta có cảm giác mình đang là một đứa trẻ. Nó gợi lại cho chúng ta ký ức của một thời trẻ trung và vui tươi.
Đôi khi những câu khẩu hiệu được nảy ra trước khi doanh nghiệp thực hiện một chiến dịch quảng cáo” - Arnie DiGeorge, Giám đốc sáng tạo của R&R Partners, một công ty xây dựng chiến dịch quảng cáo nổi tiếng cho Las Vegas, chia sẻ.
3. Cân bằng giữa cái cũ và cái mới. Theo Jerry Matthews, Giám đốc phụ trách khách hàng của Kilmer & Kilmer thì không giống như logo của một công ty, câu khẩu hiệu thường xuyên được thay đổi để phản ánh những xu hướng mới trong thị trường, những dòng sản phẩm mới mà doanh nghiệp đang muốn đẩy mạnh quảng bá.
Thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp là phải tạo ra được một câu khẩu hiệu có khả năng chuyển tải đến người tiêu dùng một thông điệp chính xác và rõ ràng.
Điều quan trọng là cân bằng giữa việc tạo ra cái mới và giữ lại những giá trị cốt lõi vốn đã khắc sâu trong tâm trí của khách hàng, tránh gây ra cho họ sự nhập nhằng hay thậm chí bị mất tin tưởng.
Việc thay đổi khẩu hiệu quá thường xuyên hay gửi đi những thông điệp làm rối trí khách hàng có thể làm tổn hại đến hình ảnh nhãn hiệu của doanh nghiệp.
 4. Không ngại những câu khẩu hiệu dài. “Nhiều doanh nghiệp mới thành lập hoặc những công ty đang làm mới nhãn hiệu thường có xu hướng thích những câu khẩu hiệu ngắn và mạnh mẽ như kiểu Just do it của Nike.
Nhưng những câu khẩu hiệu dài có vần có điệu và gợi ra nhiều cảm xúc vẫn có tác dụng rất lớn” - Robert Duncan, Giám đốc sáng tạo của Công ty quảng cáo Duncan/Channon, chia sẻ.
Câu khẩu hiệu The milk chocolate melts in your mouth, not in your hand (Chỉ tan trong miệng, không chảy nước trên tay) của nhãn hiệu kẹo chocolate nổi tiếng M&M là một ví dụ.
5. Những từ ở dạng phủ định chưa hẳn mang ý nghĩa tiêu cực.Chuyên gia tư vấn tiếp thị Jim Morris, tác giả của nhiều bài viết trên tạp chí AdWeek và BrandWeek đã giải thích: “Đôi khi những từ như chưa từng, chưa bao giờ hay không có ai tạo ra cho người ta cảm giác về một điều gì đó không tốt. Nhưng những câu khẩu hiệu kiểu như Nobody doesn’t like Sarah Lee (Không ai không yêu mến Sarak Lee) lại là một câu nói mang ý nghĩa rất tích cực”.
6. Kêu gọi khách hàng hành động. “Một số câu khẩu hiệu là một lời kêu gọi hành động rất mạnh mẽ. Just do it là một ví dụ. Để tạo ra
những câu khẩu hiệu như vậy, doanh nghiệp phải thật sự hiểu khách hàng mục tiêu của mình, hiểu phản ứng của họ và những yếu tố tạo ra niềm hứng khởi, cảm xúc cao nhất cho họ”.
Đó là lời khuyên của Chuck Porter - Chủ tịch của Crispin Porter & Bogusky (công ty xây dựng nhiều chiến dịch quảng cáo cho các nhãn hiệu Burger King, BMW Mini và chiến dịch chống hút thuốc trên trang web thetruth.com).
Theo Porter, sẽ không có một công thức chung để tạo ra những câu khẩu hiệu như vậy, vấn đề là doanh nghiệp có hiểu khách hàng và biết cách chạm đến những nguồn cảm xúc của họ hay không.
7. Đừng lạm dụng những từ ngữ sáo rỗng. “Những từ như sáng tạo, toàn cầu, giá trị… đã quá quen thuộc với người tiêu dùng. Chúng phổ biến đến mức trở thành… chẳng đáng để chú ý nữa.
Thay cho những từ này, hãy thể hiện những giá trị, lợi ích cụ thể và có sức thuyết phục mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng” - Jasmine Tanasy, Giám đốc quảng cáo và đặt tên nhãn hiệu của Công ty Landor (từng hỗ trợ cho nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Tide và Frito-Lay) nhìn nhận.
“Do vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ khi xây dựng một câu khẩu hiệu, luôn tự hỏi câu khẩu hiệu ấy có ý nghĩa như thế nào đối với khách hàng. Nó được làm ra không phải cho doanh nghiệp, mà để tạo ra một sự liên hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng mục tiêu của mình” - Tanasy khuyên.

Làm sao để cho khách hàng "phấn khích"?

Khách hàng biết nhãn hiệu và biết cái họ làm và cũng biết cái họ sẵn lòng chi trả. Họ tìm kiếm sự phấn khích”. Rất nhiều công ty, như Kellogg và P&G, ngày càng quan tâm tìm hiểu "tình cảm" nhiều hơn.


Theo một cuộc khảo sát gần đây, có nhiều khách hàng rời bỏ những thương hiệu lớn khi cuộc khủng hoảng kinh tế vừa bắt đầu tại Mỹ. Cuộc khảo sát cũng là lời cảnh báo với các gã khổng lồ trong ngành công nghiệp hàng tiêu dùng phải quan tâm hơn đến những khách hàng trung thành - những khách hàng vốn bỏ ra hơn 70% túi tiền cho nhãn hiệu trong một ngành hàng.
Sự ra đi của khách hàng trung thành là quan tâm hàng đầu của các giám đốc thương hiệu do lợi ích kinh tế mà những khách hàng này mang lại. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khách hàng rất dễ bị thuyết phục chuyển sang các nhãn hiệu có giá rẻ hơn và sẽ rất khó và tốn thời gian để thuyết phục họ trở lại.
Vì vậy, để lôi kéo và củng cố lòng trung thành của khách hàng, nhiều nhãn hàng quan tâm hơn đến yếu tố giá cả và các chương trình khuyến mại. Kraft Foods gần đây đưa ra những cải tổ để xây dựng lòng trung thành của khách hàng với tiêu chí: “Chúng ta thậm chí phải làm việc cật lực hơn khi khách hàng phấn khích”.
Chiến lược của KF đưa ra dựa theo những nghiên cứu Chỉ số Trung thành của khách hàng (CLI) do Brand Keys tiến hành năm 2011. Nghiên cứu này cho thấy, người tiêu dùng hiện nay có xu hướng tìm kiếm những trải nghiệm tốt nhất khi họ tương tác với một nhãn hiệu.
Robert Passikoff, người sáng lập Brand Keys, cho biết, "khách hàng ngày càng quan tâm đến sự khác biệt và sáng tạo. Tác động mạnh nhất đối với khách hàng đến từ thái độ liên quan đến “trải nghiệm” và "sáng tạo thật”. Khách hàng luôn trông chờ nhãn hiệu yêu thích của họ tạo ra một sự khác biệt thật sự.
Khách hàng biết nhãn hiệu và biết cái họ làm và cũng biết cái họ sẵn lòng chi trả. Họ tìm kiếm sự phấn khích”. Rất nhiều công ty, như Kellogg và P&G, ngày càng quan tâm tìm hiểu "tình cảm" nhiều hơn.
Gần đây, Kellogg đã thuê một nhà tâm lý học để khám phá những cảm xúc lẫn lộn của phụ nữ về thực phẩm. Kết quả là thay vì tiếp thị loại sản phẩm Special K như một thức ăn sáng ít chất béo, Kellogg đã tung ra các loại sản phẩm dành riêng cho từng nhóm phụ nữ có độ tuổi khác nhau.

3 sai lầm cần tránh trong email thương mại

Thông thường, một lá thư cần thỏa mãn các câu hỏi về ai, việc gì, khi nào, ở đâu và vì sao trong khi dòng tiêu đề cần phản ánh những yếu tố ấy càng nhiều càng tốt.


Mỗi ngày trôi qua, lại có không ít doanh nghiệp bỏ qua nhiều cơ hội bán hàng thành công, vô số những cuộc gặp gỡ và sự kiện đón nhận một tỷ lệ hồi âm thấp hơn rất nhiều so với mong đợi, cũng như rất nhiều công sức, thời giờ và chi phí bỏ ra đổi lấy một thành quả kinh doanh nhỏ nhoi.
Lý do là gì? Bởi lẽ không ít cá nhân viết nên những email thương mại, đăng thông cáo báo chí, thư bán hàng trực tiếp, bài viết trên website… bỏ mất những thông tin quan trọng mà chính họ ngỡ rằng khách hàng đã nắm bắt.
Hãy nghĩ đến một khách hàng từng lắng nghe về một sản phẩm bạn bày bán hoặc một sự kiện bạn sắp tổ chức, cảm thấy rất hứng thú và muốn mua hoặc tham gia, song cuối cùng lại không thể hoàn thành ý định ấy chỉ vì không nắm bắt rõ làm thế nào để họ mua hàng hoặc dịch vụ từ bạn.
Nguyên do có lẽ vì quá trình mua bán quá phức tạp, hoặc đơn giản vì lỗi kỹ thuật từ phía người bán. Nghe khá buồn cười song đấy là thực tế diễn ra hằng ngày! Và đâu là cảm nhận của người khách hàng khi tình huống ấy xảy đến? Thất vọng, tức giận hay thậm chí mất đi sự tín nhiệm vào thương hiệu của bạn?
Không quá khó để trả lời câu hỏi này và càng ý nghĩa hơn khi bạn có thể khắc phục những sai lầm thường mắc phải trong việc trao đổi email với khách hàng:
Cho rằng khách hàng nắm bắt mọi chi tiết về lời chào hàng của bạn.
Sự ngộ nhận tồi tệ nhất của một chuyên viên bán hàng chính là ngỡ rằng khách hàng của họ sẽ đọc tất thảy mọi email họ gửi đi, mở xem mọi tin nhắn di động, thư trực tiếp hay nhớ mọi chi tiết trao đổi trong lần gặp gỡ trước đó không lâu.
Khách hàng có quyền quên đi những thông tin về sản phẩm hoặc dịch vụ dù bạn trình bày cùng họ chi tiết đến đâu chăng nữa.
Có lẽ, chính bạn cũng từng nhận đọc một số email nhắc nhở bạn mua sản phẩm ABC hay tham gia sự kiện XYZ, nhưng lại quên đính kèm nơi bán hàng hay địa chỉ sự kiện dù thông tin chi tiết đã được trao đổi trước đó qua điện thoại hay đề cập trong email cũ.
Trừ phi người đọc thật sự hứng thú với sản phẩm hay dịch vụ bạn kinh doanh sẽ sẵn sàng thực hiện công việc tìm hiểu, gọi điện thoại đến bạn để hỏi thăm thông tin, còn phần lớn những người khác sẽ xóa ngay email ấy.
Biện pháp chỉnh sửa: Cho rằng khách hàng rất hay quên. Vì thế, mỗi một email thông tin đến khách hàng luôn cần thiết đính kèm những mẫu thông tin quan trọng về sản phẩm, cuộc hẹn gặp hoặc sự kiện, thậm chí nêu bật những lợi ích mà người đọc sẽ có được từ đó.
Quan trọng hơn, hãy ra cụ thể bước tiếp theo họ nên làm gì.
Đường truyền “chết” sẽ tiêu diệt cơ hội mua bán.
Một trong những sự khinh suất cần tránh nhất là những đường truyền đính trong email gửi khách hàng. Đấy có thể là những đường link “chết” hoặc dẫn khách hàng đến một điểm đến không chính xác.
Đã bao nhiêu lần bạn nhấp chuột vào một đường link để tìm hiểu thêm thông tin về một sản phẩm hoặc dịch vụ, song nó lại đưa đến trang chủ doanh nghiệp, thay vì sản phẩm bạn tìm, thế là công việc tìm kiếm lại phải tự thực hiện?
Một sai lầm không đáng ấy sẽ tạo cảm giác khó chịu nơi người xem, không ngoại trừ khả năng bạn mất trắng một cơ hội bán hàng dù đã nỗ lực đưa khách hàng chạm đến website của doanh nghiệp.
Biện pháp chỉnh sửa: Đừng bao giờ tưởng rằng các đường truyền của bạn luôn hoạt động hiệu quả bất cứ lúc nào. Luôn kiểm tra chúng trước khi gửi email đi và kiểm tra chúng ít nhất mỗi tuần một lần nhằm đảm bảo mọi thứ đang hoạt động tốt.
Ngoài ra, cũng chắc chắn rằng đường truyền kia sẽ dẫn dắt người đọc đến chính xác nơi chứa đựng các thông tin họ muốn đọc. Hoặc tạo ra một cảm giác dễ chịu không chút tì vết, hoặc bằng một cú nhấp chuột, người khách hàng thiếu kiên nhẫn kia sẽ thoát khỏi website của bạn.
Tiêu đề email đã đủ sức lôi cuốn?
Một yếu tố khác “giết chết” cơ hội bán hàng của bạn chính là không đưa ra bất kỳ một sự gợi ý nào về nội dung của email ngay trên dòng tiêu đề.
Hành động thường có của một cá nhân đối diện với hàng tá email trong hộp thư điện tử, cùng với sự hạn chế về thời gian và lòng kiên nhẫn, chính là xóa bỏ mọi thứ không nằm trong tầm quan tâm của họ. Thật sai lầm khi cho rằng người đọc sẵn sàng mở đọc các thư điện tử mà chẳng cần biết trước nó chứa đựng nội dung gì.
Biện pháp chỉnh sửa:
Kể khách hàng nghe về nội dung sẽ trình bày. Dòng tiêu đề nên giúp người đọc hiểu rõ và khái quát những gì họ sắp tìm thấy trong email.
Thông thường, một lá thư cần thỏa mãn các câu hỏi về ai, việc gì, khi nào, ở đâu và vì sao trong khi dòng tiêu đề cần phản ánh những yếu tố ấy càng nhiều càng tốt.
Nếu bạn có thể giúp người đọc biết được những gì họ có thể kỳ vọng tìm thấy trong đó, những ai thích thú nhất định sẽ mở đọc. Thực tế, không ít các doanh nghiệp chủ động sử dụng các dòng tựa đề vô cùng bắt mắt với hy vọng dấy lên sự tò mò, trừ phi bạn nghĩ rằng đấy là thông tin thật sự cuốn hút, sẽ không hề ngạc nhiên khi số người mở email là rất thấp.

Cách quản lý lực lượng bán hàng ảo


7. Hỗ trợ nhân viên ảo như chính khách hàng của mình.


Theo công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu IDC thì đến cuối năm 2011 sẽ có khoảng 1 tỷ người khắp thế giới gia nhập lực lượng “công nhân di động”: làm việc tự do từ xa. Cùng lúc đó, ngày càng nhiều CEO và doanh nhân nhận ra rằng nhân viên ảo (nhân viên không đến văn phòng, và hiếm khi trực tiếp gặp lãnh đạo) không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tăng lợi thế cạnh tranh toàn cầu.
Quản lý nhân viên ảo: Tạo nhóm làm việc tích cực, có hiệu quả
Theo lời Richard Lepsinger, Chủ tịch công ty tư vấn trực tuyến OnPoint Consulting có trụ sở tại New York thì: “Ngày nay, các tổ chức và doanh nghiệp vươn xa rộng khắp. Họ muốn gia tăng khách hàng toàn thế giới, nên nỗ lực tiếp cận nhân tài ở bất cứ nơi đâu. Bên cạnh đó, kỹ thuật phát mạnh mẽ làm nền tảng hỗ trợ vững chắc. Vậy nên, mô hình nhóm làm việc ảo ngày càng thịnh hành”.
Richard Lepsinger
Trên thực tế, có thể nói lực lượng nhân viên ảo đã xuất hiện từ khi điện thoại ra đời. Nhưng lúc bấy giờ, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên vẫn được xây dựng dựa trên quan hệ cá nhân hình thành ở văn phòng khi mọi người gặp nhau trực tiếp. Nhưng ngày nay, khoảng cách địa lý càng xa và việc gặp mặt đối mặt càng hạn chế…
Xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong một tòa nhà công ty đã là thử thách. Thế nên, xây dựng tập thể nhân viên phân tán toàn quốc hoặc thậm chí thế giới sẽ càng phức tạp. Đặc biệt khi cần giải quyết khó khăn công việc hoặc vấn đề cá nhân. Làm thế nào người lãnh đạo thu hút chú ý của nhân viên vào sản phẩm hoặc dịch vụ mới của công ty khi họ đang mặc đồ ngủ nhởn nhơ xem TV ở nhà? Sau đây là vài lưu ý cho bạn:
Quản lý nhân viên ảo: Tạo nhóm làm việc tích cực, có hiệu quả
Dù là thực hay ảo, gần hay xa, khi thuê nhân viên, bạn đều phải bảo đảm tìm đúng người để giao đúng việc.
David Clemons và Giáo sư Michael Kroth đã nghiên cứu cách thức các lãnh đạo quản lý nhân viên ảo giỏi nhất và đúc kết công trình nhiều năm trong quyển sách “Managing the Mobile Workforce: Leading, Building, and Sustaining Virtual Teams”. Trong đó, hai ông phân tích nhiều câu chuyện, dữ liệu và lời khuyên từ 39 lãnh đạo và xác định một trong những điều quan trọng nhất là vạch rõ vai trò và kỳ vọng dành cho từng thành viên.
Nhóm nhân viên ảo dù có phân tán toàn cầu cũng vẫn phải hoạt động giống các nhóm nhân viên bình thường khác. Nghĩa là, “Dù nhân viên có ngồi cùng phòng với lãnh đạo hay không thì điều cần nhất luôn là gây dựng niềm tin và sự tín nhiệm lẫn nhau”, Kroth cho biết.
Theo giáo sư Karen Sobel Lojeski ngành Khoa học và Xã hội tại đại học Stony Brook, thì thử thách của nhân viên ảo không chỉ giới hạn ở khoảng cách địa lý. Từ năm 2002, Lojeski đã nghiên cứu khái niệm “khoảng cách ảo”, nghĩa là công nghệ mà con người dùng để liên lạc với nhau cũng ảnh hưởng đến việc tạo khoảng cách lẫn nhau. Theo Lojeski, lãnh đạo phải ý thức rằng ở đầu bên kia đường dây điện thoại không chỉ là giọng nói mà là nhân viên của mình. Chị khẳng định: “Phải luôn ghi nhớ rằng ở đầu dây bên kia điện thoại là một con người. Thế nên, các lãnh đạo phải gây dựng mối quan hệ có thể tín nhiệm”. Ví dụ như người lãnh đạo phải sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân, đồng thời, lắng nghe những vấn đề mà nhân viên quan tâm, tạo văn phòng làm việc tích cực để mọi người thấu hiểu nhau dẫu bị chia tách về mặt địa lý.

Quản lý nhân viên ảo: Đối mặt trực tiếp với các vấn đề
Michael Kroth
Nếu không có tín hiệu gương mặt và lời nói, thì rất khó biết đối phương đang nghĩ gì. “Khi không nghe tiếng nói hoặc gặp mặt trực tiếp, bạn sẽ khó biết đối phương tiếp nhận thông điệp của mình với thái độ như thế nào nên cũng không biết phải tiếp nối câu chuyện ra sao… Bạn sẽ khó nhận ra vấn đề “xa mặt cách lòng” nghiêm trọng đến mức nào nếu chưa thực sự gặp phải”, Richard Lepsinger cho biết.
Lepsinger khuyên khách hàng của mình sử dụng phần mềm chương trình video hội nghị càng thường xuyên càng tốt và nên tránh xa e-mail: “Phải tạo môi trường tương tác cao. Và may mắn thay, ngày nay có nhiều cách dễ dàng và rẻ tiền giúp con người kết nối với nhau ngay tức thì… Chọn WebEx và Skype làm video hội nghị; và Yammer như Facebook cho văn phòng”.

Một điều khó khăn là khi tuyển dụng, bạn sẽ chọn thuê ai? Làm thế nào bạn biết họ có thể hòa nhập văn hóa công ty khi mà họ không đến công ty dù chỉ một lần? Clemons và Kroth gợi ý các lãnh đạo nên xác định yêu cầu công việc rồi mới bắt tay tìm ứng cử viên đáp ứng được yêu cầu đó cho vị trí đó. Anh David Clemons khẳng định: “Nếu bạn không chọn đúng người vào đúng chỗ thì khó có thể thành công. Bạn phải biết rõ mình đang muốn thu nhận ai để làm việc gì”.
Quản lý nhân viên ảo: Cân nhắc các chiến thuật
Theo Richard Lepsinger, “Làm người lãnh đạo nhóm nhân viên ảo, bạn không chỉ giúp nhân viên tương tác tốt với khách hàng mà còn phải giúp các nhân viên tương tác tốt với nhau… Ngay từ đầu, người lãnh đạo phải tạo ra các quy định, giới hạn và buộc mọi thành viên trong nhóm tuân thủ. Đặc biệt trong vấn đề liên lạc, nhân viên ảo cần biết cách nào và khi nào cần trao đổi với nhau, mức độ thường xuyên như thế nào?”
Trong quyển sách của mình, David Clemons và Michael Kroth đã đưa ra 7 bí quyết cần triển khai trong nhóm làm việc ảo:
1. Xây dựng tập thể lãnh đạo nắm bắt được những thử thách khi quản lý nhóm làm việc ảo.
2. Kết hợp ứng dụng, kỹ thuật mới vào hệ thống sẵn có.
3. Công khai chính sách và chọn dùng các công nghệ đơn giản, dễ sử dụng.
4. Xác định vai trò và kỳ vọng.
5. Cộng tác.
6. Rèn luyện, học tập và nâng cao tay nghề.
7. Hỗ trợ nhân viên ảo như chính khách hàng của mình.

Và cuối cùng, Kroth và Clemons nhắc nhở người quản lý có trách nhiệm thúc đẩy tinh thần nhóm nhân viên. Bởi vì không gặp mặt trực tiếp, họ khó nhận phản hồi và không thấy kết quả làm việc hữu hình, nên càng cần được quan tâm chăm sóc tinh thần để tăng tự tin vào chính mình.

Khi thương hiệu được gắn với từ thiện

Microsoft cam kết hỗ trợ 2 triệu USD tiền mặt và tặng 90 ngày miễn phí phiên bản Microsoft Exchange online cho các doanh nghiệp, cá nhân tại các khu vực bị thiên tai.


Gắn với hoạt động từ thiện luôn đem lại hình ảnh tốt đẹp cho các thương hiệu. Trong các thảm họa thiên nhiên hay khủng hoảng nhân đạo, các thương hiệu làm từ thiện chính là lúc thể hiện trách nhiệm xã hội và “đền đáp” lại xã hội.
Tỷ phú Mỹ Warren Buffet, khi quyết định tặng gần 4 tỷ USD cho năm quỹ từ thiện, nói: “Tôi trả lại cho xã hội những gì đã góp nhặt từ xã hội”. Và càng “thực tâm” làm từ thiện thì thương hiệu càng có sức sống lâu bền đối với người tiêu dùng. Chương trình tiếp thị nhân đạo “Loads of Hope” được đánh giá là quan trọng nhất trong lịch sử sáu mươi năm của thương hiệu Tide.
Trên bao bì mới của Tide là khuôn mặt thật của những người mà Tide đã giúp đỡ, trong số đó có các nạn nhân của cơn bão Katrina. Tính đến thời điểm này Tide đã sản xuất được hơn 300 ngàn túi bột giặt sạch cho cư dân đang gặp khó khăn tại New Orleans. Đây cũng được xem là đợt truyền thông hiệu quả nhất của Tide trong nhiều thập kỷ qua.
Cho đến nay, qua nhiều cuộc tranh cãi, xã hội đã chấp nhận hoạt động từ thiện có thể gắn kết với việc làm thương hiệu. Vấn đề là các thương hiệu đó “thành tâm” đến đâu khi đến với những người gặp hoạn nạn.
Mỗi thương hiệu sẽ có một cách làm từ thiện khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là sự hỗ trợ đến được với người gặp hoạn nạn trong thời gian nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Chẳng hạn, trong thảm họa động đất mới xảy ra tại Nhật Bản, các nhãn hàng lớn nhất của Mỹ đi đầu trong hoạt động từ thiện và cứu trợ. Hãng sữa Abbott quyên góp 3 triệu USD cho Hội Chữ Thập đỏ Nhậït Bản.
Trong khi đó, AT&T và Verizon cung cấp dịch vụ di động và nhắn tin miễn phí cho các thuê bao tại Nhật. Còn hãng Coca-Cola, ngoài 7,3 triệu USD tiền mặt còn cung cấp các máy uống nước miễn phí tại Nhật.
Microsoft cam kết hỗ trợ 2 triệu USD tiền mặt và tặng 90 ngày miễn phí phiên bản Microsoft Exchange online cho các doanh nghiệp, cá nhân tại các khu vực bị thiên tai.
Nhờ vào sự trợ giúp của Twitter trong nỗ lực kêu gọi quyên góp cho người dân Nhật đang gặp nạn, Hội Chữ Thập đỏ Hoa Kỳ đã nhận được hơn 1 triệu USD từ dịch vụ tin nhắn gửi đến từ khắp nước Mỹ...

Cần hiểu khách hàng theo mục tiêu

Bộ phận máy ảnh kỹ thuật số của tập đoàn Sony đã áp dụng thành công phương pháp hiểu khách hàng theo mục tiêu trong việc cải tiến sản phẩm. Sony đã phát hiện ra một số lượng lớn khách hàng mua máy chụp hình kỷ niệm cho con mình, nhất là lúc con cười nên đã tung ra dòng máy ảnh có chức năng tự động chụp hình khi bé cười bằng cách tích hợp chức năng nhận dạng. Dòng máy ảnh này đã khá thành công trên thị trường.


Kinh tế suy thoái, sức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ giảm sút, khách hàng ngày càng kỹ tính hơn trong các chọn lựa của mình. Muốn chăm sóc khách hàng tốt, doanh nghiệp cần hiểu khách hàng muốn gì, từ đó mới xây dựng được những chính sách phù hợp với nhu cầu của họ.
Lắng nghe khách hàng không chưa đủ!
Một sản phẩm hoặc dịch vụ không thể làm vừa lòng tất cả mọi khách hàng, nên việc hiểu khách hàng, hiểu sự khác nhau trong nhu cầu của khách hàng đối với đối với sản phẩm là nền tảng cơ bản để doanh nghiệp có thể nghiên cứu, thiết kế và sáng tạo sản phẩm phù hợp. Đây cũng là xuất phát điểm để doanh nghiệp thực hiện các tiến trình phân khúc khách hàng, định vị, định giá sản phẩm, truyền thông, phân phối, bán hàng và hậu mãi.
Lắng nghe khách hàng không chưa đủ!
Để hiểu khách hàng, đa số các doanh nghiệp nghĩ ngay đến việc lắng nghe khách hàng. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Giáo sư Leonard, Đại học Havard, không phải tình huống nào cũng nên lắng nghe khách hàng. Ở những lĩnh vực khách hàng hiểu rõ, lắng nghe là điều tốt. Nhưng ở những lĩnh vực khách hàng không rành, ví dụ lĩnh vực nghiên cứu sản phẩm mới, việc hỏi khách hàng góp ý về giải pháp cho sản phẩm mới thường có hai hạn chế.
Thứ nhất, khách hàng sẽ có xu hướng quá tập trung vào cách thức mà họ đang sử dụng sản phẩm hiện hữu và khó lòng tưởng tượng ra giải pháp mới.
Thứ hai, khi hỏi ý kiến khách hàng, đôi khi khách hàng cũng có nhu cầu mâu thuẫn nhau, mà bản thân họ cũng không biết cách giải quyết.
Cái khéo của doanh nghiệp là khơi gợi cho khách hàng nói ra những nhu cầu dù mâu thuẫn nhưng có thật này. Trên cơ sở đó, bộ phận nghiên cứu của doanh nghiệp sáng tạo ra những sản phẩm mới thỏa mãn hài hòa những mong muốn trái ngược của khách hàng. Chẳng hạn, có nhiều ông bố bà mẹ vừa không muốn cho bé mặc tã ( vì sợ bé bị nóng, ngứa….) vừa cũng không muốn em bé tè ướt giường. Hiểu được điều này, tập đoàn Kimberly-Clark đã sáng tạo ra “quần đáy tã” và đã thành công vang dội. 
Hiểu khách hàng theo mục tiêu
“Hiểu khách hàng theo mục tiêu” đưa ra quan điểm khác về cách hiểu khách hàng.
“Hiểu khách hàng theo mục tiêu” đưa ra quan điểm khác về cách hiểu khách hàng. Việc khách hàng chọn mua sản phẩm nhằm hoàn tất một mục tiêu nào đó, và mục tiêu đó cần được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể. Trên cơ sở những thông tin này, bộ phận nghiên cứu sản phẩm của doanh nghiệp tiến hành thiết kế lại sản phẩm, hoặc phát triển sản phẩm để giúp khách hàng thực hiện được các mục tiêu của mình trong hoàn cảnh đặc thù đó.
Một hệ thống nhà hàng bán thức ăn nhanh rất muốn tăng doanh số mặt hàng kem sữa. Trước kia, nhà hàng phân nhóm các khách hàng theo các chỉ số nhân khẩu học và tâm lý tiêu dùng. Họ mời khách hàng đến dùng thử các loại kem mới và đề nghị cho ý kiến. Dựa trên các đánh giá này, nhà hàng đưa ra nhiều loại kem mới. Tuy nhiên, sau một thời gian doanhthu vẫn không tiến triển.
Một nhà nghiên cứu thị trường đã dùng phương pháp “hiểu khách hàng theo mục tiêu” để tiếp cận vấn đế. Đầu tiên, người này quan sát hành vi mua kem của khách hàng. Theo đó, khách hàng mua kem vào buổi sáng thường chỉ mua kem sữa, không mua thêm thứ khác. Những người này không uống tại chỗ mà vừa lái xe vừa uống. Qua phỏng vấn phát hiện nhóm khách hàng này đang trên đường đi làm, khá vội, họ không đói, nhưng cần một thứ gì vừa ăn vừa lái xe cho đỡ buồn. Yêu cầu đối với món đó là phải giúp họ không đói cho đến tận trưa. Đối với những lựa chọn khác như bánh ngọt, chuối và đậu phộng, đa số cho là bánh ngọt quá khô, chuối ăn mau hết, đậu phộng thì mau đói, chỉ có kem sữa là phù hợp.
Nhóm khách hàng buổi trưa và chiều đa phần là cha mẹ mua cho con tráng miệng sau bữa ăn. Tuy nhiên, những người này thường ăn xong trước và phải sốt ruột chờ con hút kem sữa.
Dựa trên những thông tin trên, nhà nghiên cứu đề xuất : đối với nhóm khách hàng thứ nhất, các loai kem bán vào buổi sáng cần được pha đặc hơn. Vì đa số khách hàng đều vội, các máy kem cần để trước quầy cho khách tự lấy. Về mặt thanh toán, nhà hàng cần phát hành thẻ trả trước để khách hàng có thể tự trả tiền bằng cách cà thẻ vào máy trước khi lấy kem.
Đối với nhóm khách hàng thứ hai, kem bán buổi chiều cần được pha loãng hơn, để cho các cô cậu nhỏ uống nhanh cho ba mẹ khỏi phải chờ lâu. Các sắp xếp quầy kệ cũng khác buổi sáng. Máy kem cần để bên trong để tránh trường hợp các cô cậu nhỏ nghịch ngợm. Kết quả là không những doanh số kem sữa của nhà hàng tăng vọt, mà các chỉ số hài lòng đối với nhà hàng cũng tăng cao hơn trước kia.
Những lưu ý
Khách hàng được nghiên cứu phải là những người liên quan trực tiếp đến việc sử dụng sản phẩm và cần đa dạng để đại diện cho toàn bộ nhóm khách hàng tiềm năng của công ty.
Nghiên cứu khách hàng theo mục tiêu nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ mong muốn của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, từ đó làm cơ sở để doanh nghiệp cải tiến sản phẩm hoặc thiết kế sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Để việc nghiên cứu khách hàng có hiệu quả, cần lưu ý những điểm quan trọng sau.
Cần chọn đúng mẫu nghiên cứu. Khách hàng được nghiên cứu phải là những người liên quan trực tiếp đến việc sử dụng sản phẩm và cần đa dạng để đại diện cho toàn bộ nhóm khách hàng tiềm năng của công ty. Điều này giúp cho việc nghiên cứu khách hàng ghi nhận được hết tất cả mục đích sử dụng sản phẩm của các nhóm khách hàng khác nhau.
Không phải mục tiêu nào cũng quan trọng như nhau. Kết quả nghiên cứu khách hàng thường cho ra rất nhiều mục tiêu mà khách hàng mong muốn khi mua sản phẩm. Doanh nghiệp cần làm rõ những mục tiêu này gắn liền với hoàn cảnh cụ thể nào. Kế đến doanh nghiệp tiến hành khảo sát khách hàng bằng phương pháp định lượng để xác định được tầm quan trọng của các mục tiêu khác nhau đối với khách hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần xác định mức độ hài lòng của khách hàng đối với việc thực hiện được mục tiêu mong muốn.
Khi cải tiến hoặc phát triển sản phẩm mới, doanh nghiệp sẽ ưu tiên những giải pháp phục vụ các mục tiêu quan trọng nhất. Nếu có hai mục tiêu quan trọng như nhau, cần ưu tiên phát triển giải pháp phục vụ mục tiêu mà chỉ số hài lòng của khách hàng thấp hơn.
Bộ phận máy ảnh kỹ thuật số của tập đoàn Sony đã áp dụng thành công phương pháp hiểu khách hàng theo mục tiêu trong việc cải tiến sản phẩm. Sony đã phát hiện ra một số lượng lớn khách hàng mua máy chụp hình kỷ niệm cho con mình, nhất là lúc con cười nên đã tung ra dòng máy ảnh có chức năng tự động chụp hình khi bé cười bằng cách tích hợp chức năng nhận dạng. Dòng máy ảnh này đã khá thành công trên thị trường.
Tóm lại, phương pháp “hiểu khách hàng theo mục tiêu” giúp doanh nghiệp tìm ra những gì khách hàng thật sự cần và mức độ ưu tiên của từng nhu cầu, từ đó cải tiến, sáng tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đây chính là nền tảng căn bản để tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời giảm thiểu rủi ro thất bại khi tung ra sản phẩm mới.

5 lý do khiến cho tiếp thị truyền thông xã hội thất bại

DN và các nhà tiếp thị - quảng cáo cần truyền đi thông điệp này một cách rõ ràng. Tăng doanh số phải là yếu tố hàng đầu đánh giá sự thành công của một chiến dịch TTXH.


Truyền thông xã hội (TTXH - social media) đang trở thành một công cụ thời thượng của ngành tiếp thị. Nhiều công ty hàng đầu đã và đang đổ tiền vào các chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên các trang như Facebook, Twitter hay YouTube.
Tuy nhiên, tác động thật sự của TTXH đến thương hiệu, doanh số và dịch vụ khách hàng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, TTXH không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm doanh số của không ít thương hiệu.
Vấn đề nằm ở chỗ, các công ty này đã không xác định được mục tiêu rõ ràng của các chiến dịch TTXH và sử dụng không hiệu quả các công cụ này.
Sau đây là 5 nhận định sai lầm khiến việc tiếp thị bằng TTXH đi chệch hướng.
1. “Thương hiệu” tồn tại như một thực thể
Các nhà tiếp thị đã quen với suy nghĩ “Thương hiệu tồn tại như một thực thể”. Trên thực tế, “thương hiệu” chỉ là một khái niệm trừu tượng mà thôi.
Bản thân thương hiệu không có giọng nói, danh tiếng, thuộc tính riêng hay hành động.
Khi các nhà quảng cáo đánh giá mức độ nhận biết của một thương hiệu nào đó, họ chỉ ghi lại nhận định của khách hàng về thương hiệu đó trong một khoảng thời gian cố định.
Vì vậy, ý định tạo ra các cuộc đối thoại giữa thương hiệu và người tiêu dùng là không có cơ sở. Khách hàng nói về thương hiệu chứ không nói với thương hiệu. Thay đổi nhận thức về thương hiệu là bước đi quan trọng đầu tiên giúp bạn sử dụng hiệu quả hơn, xác định được mục đích khi sử dụng các kênh truyền thông này.
2. Truyền thông xã hội đem tới cơ hội đối thoại với khách hàng
Các nhà tiếp thị thuyết phục bạn: Mạng xã hội (MXH) không giống các phương tiện truyền thống, nó sẽ giúp bạn tiếp cận trực tiếp, nhanh hơn và gần hơn với khách hàng.
Tuy nhiên, đối thoại cũng không phải là việc mới mẻ và không phải đợi đến khi MXH ra đời thì nhà kinh doanh mới có cơ hội đối thoại với khách hàng. Bạn nên hạn chế giao tiếp với khách hàng nếu các cuộc nói chuyện này không hướng đến một mục tiêu hay đem tới những giá trị cụ thể.
3. Truyền thông xã hội giúp thương hiệu có thêm khách hàng
Bạn có một danh sách bạn bè (friendlist) hoặc người hâm mộ (fan) dài dằng dặc không có nghĩa tất cả họ đều là khách hàng của bạn. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp (DN) với khách hàng không thể được duy trì bằng các trò giải trí online.
Điều quan trọng không phải là thu hút được nhiều người nhấn nút “thích” (like). Bạn phải tận dụng mọi cơ hội tương tác với khách hàng để giao tiếp hiệu quả và thuyết phục được họ sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Chất lượng quan trọng hơn số lượng.
4. Truyền thông xã hội cải thiện dịch vụ khách hàng
Khiếu nại là kết quả của cả một quá trình sản xuất và kinh doanh, còn khắc phục các khiếu nại là một phản ứng đối với sự thất bại của dịch vụ khách hàng. DN dựa vào các phương tiện TTXH như công cụ để các lời phàn nàn xuất hiện vào mediasphere này.
Đáng lẽ dịch vụ khách hàng phải giải quyết các khiếu nại miễn phí thì mới đóng vai trò quản lý khiếu nại. Ngăn cản khách hàng cảm thấy không hài lòng về dịch vụ không phải là cách hay. Chiêu thức này không làm cho chất lượng sản phẩm cải thiện.
5. Mục tiêu của các chiến dịch truyền thông xã hội không phải là bán hàng
DN và các nhà tiếp thị - quảng cáo cần truyền đi thông điệp này một cách rõ ràng. Tăng doanh số phải là yếu tố hàng đầu đánh giá sự thành công của một chiến dịch TTXH.
Từ trước đến nay, các DN vẫn loay hoay xác định đích đến thực sự của các hoạt động này và bây giờ, tất cả những gì cần làm là thừa nhận việc tiếp thị bằng TTXH cũng có cùng đích đến với việc kinh doanh. 

Cách tìm nguồn vốn qua IR

Vì thế, những người làm PR và marketing chỉ cần hiểu về tài chính là có thể kiêm nhiệm công việc này. Các doanh nhân tham gia tọa đàm thống nhất, trong thời điểm khó khăn về nguồn vốn như hiện nay, vai trò của các IRO là phải làm minh bạch thông tin.


Tọa đàm “Quan hệ nhà đầu tư - Giải pháp marketing nguồn vốn” do Viện Marketing và Quản trị Việt Nam phối hợp với Báo Doanh Nhân Sài Gòn tổ chức cuối tuần qua đề cập vấn đề thị trường nguồn vốn ngày càng căng thẳng khiến doanh nghiệp (DN) nghĩ đến giải pháp kêu gọi nhà đầu tư (NĐT). Nhưng để thu hút nguồn vốn này, DN phải xây dựng được mối quan hệ với NĐT một cách chuyên nghiệp, bài bản, và đây là điều các DN Việt Nam chưa quan tâm.
Tại sao phải quan tâm đến IR?
Khi thị trường vốn ngày càng căng thẳng, hạn chế tăng trưởng tín dụng xảy ra cùng lúc với sự sụt giảm của thị trường chứng khoán khiến nhiều DN nghĩ đến huy động vốn từ NĐT. Và như vậy, quan hệ nhà đầu tư (IR) cần được quan tâm đúng mức.
IR là công tác quản trị chiến lược, một tổng hợp của tài chính, truyền thông, tiếp thị trong khuôn khổ pháp lý giúp thông tin hai chiều giữa công ty với cộng đồng và các tổ chức tài chính nhằm tối ưu giá trị DN/cổ phiếu.
Quản trị IR tốt không những giúp DN tiếp cận nguồn vốn dễ dàng và giảm chi phí vốn trong tương lai, giá trị của công ty được đánh giá đúng, mà còn góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam lên tầm cao mới.
Nhưng công tác IR phải cung cấp cho cổ đông một bức tranh chính xác, trung thực và rõ ràng về kết quả hoạt động của công ty trong quá khứ cũng như triển vọng trong tương lai. Sứ mệnh của các nhân viên chuyên trách công tác quan hệ NĐT (IRO) là phải làm cho cổ đông hiểu và đầu tư vào giá trị thực của công ty.
IRO phải hiểu rõ các yếu tố tác động đến quyết định của NĐT. Các NĐT trông đợi IRO công bố thông tin tốt hơn, minh bạch hơn và truyền thông hiệu quả hơn. Một chương trình IR thông thường hướng đến các đối tượng sau: NĐT tổ chức, NĐT cá nhân, kênh truyền thông tài chính và chuyên viên phân tích.
Thiếu và yếu
Dưới góc nhìn của marketing thì sản phẩm của IR là công ty. Vì thế, gói sản phẩm được đóng chính là báo cáo năm, hồ sơ sở chứng khoán, hồ sơ khách hàng, đối tác, các bảng biểu, năng lực, các hồ sơ tài chính...
Việc phân phối, quảng cáo là những cuộc gặp gỡ các nhà phân tích, hội nghị cổ đông, PR/quảng cáo, phỏng vấn, sự kiện... và khách hàng chính là các NĐT tổ chức, NĐT cá nhân và nhà môi giới. Mục tiêu của IR là nhằm đạt được và duy trì mức giá hợp lý của cổ phiếu bằng những chiến lược truyền thông và thông tin hiệu quả.
IR rất quan trọng nhưng trên thực tế, hiện nay, mối quan hệ giữa DN với NĐT còn khá lỏng lẻo và thường thấy dưới cái tên phòng/ban quản lý cổ đông dừng lại ở mức độ “quản lý”, bao gồm quản lý thông tin và thực hiện các quyền của cổ đông, chưa thấy được mối quan hệ, tương tác hai chiều.
Phần lớn DN vẫn chưa có bộ phận IR riêng, vì thế, khi có bất cứ sự cố nào, người đứng đầu DN thường lãnh trách nhiệm giải quyết. Ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Masso Group, cho rằng, công tác IR tại Việt Nam chưa được đầu tư chuyên sâu.
Đa số DN chưa có ngân sách riêng cho hoạt động này, chưa có đội ngũ IRO. Hơn nữa, kiến thức quản trị IR của DN còn rất manh mún và thiếu các đối tác tư vấn, cung cấp các dịch vụ IR.
Kết quả cuộc khảo sát cuối năm 2010 của Tập đoàn Masso Group cho thấy, gần 90% công ty được hỏi cho biết có thực hiện các hoạt động IR nhưng dưới hình thức kiêm nhiệm hoặc thông qua ban quản lý cổ đông.
Rất ít DN có IRO đúng nghĩa (dưới 30% công ty tham gia khảo sát trả lời) và điều đáng nói là ngân sách dành cho hoạt động này hằng năm không đáng kể.
Gần một nửa số công ty được hỏi cho biết, mỗi năm họ chỉ dành khoảng 5.000 - 30.000USD cho hoạt động IR. Và có đến 12% số công ty tham gia khảo sát xác định không có kinh phí cho hoạt động này.
Cần đẩy mạnh IR
Thực hiện công tác IR đòi hỏi rất nhiều kỹ năng về chuyên môn như tài chính - kế toán, truyền thông, thị trường chứng khoán, pháp luật về chứng khoán và cả những “kỹ năng mềm” như khả năng phân tích, truyền đạt và diễn thuyết.
Bên cạnh đó, IRO phải am hiểu công ty, nắm được những ưu, nhược điểm của công ty cũng như của các DN cạnh tranh trong cùng ngành.
Không chỉ thế, họ còn phải biết cách truyền thông, chủ động tiếp cận NĐT và giới đầu tư. Họ phải biết nhắm đến NĐT mục tiêu, đo lường phản hồi cũng như báo cáo kết quả.
Các IRO phải làm thế nào để ban giám đốc hiểu về IR và chia sẻ công việc với mình. Ngoài ra, họ phải có khả năng giao tiếp chuyên nghiệp, chính xác; biết lắng nghe và điều phối thông tin bên trong cũng như bên ngoài; nắm bắt thông tin và tổng hợp theo từng “nhịp thở” của công ty đồng thời với việc tư duy chiến lược và quản trị cấp cao.
Một yếu tố không kém phần quan trọng là họ phải kiên nhẫn, nhất quán và đam mê công việc.
IR không chỉ gói gọn trong công bố thông tin theo quy định, mà là cả một chiến lược quản lý và trao đổi thông tin giữa DN và cộng đồng đầu tư; marketing, tiếp thị hình ảnh của DN đến cộng đồng đầu tư.
Do vậy, các IRO cần phải lên kế hoạch thực hiện, có tính toán đến từng đối tượng, thời gian triển khai, cách thức tiếp cận phù hợp với từng đối tượng trong cộng đồng đầu tư.
Trên thế giới, những năm 1970-1980, IR là nhiệm vụ của PR và truyền thông, nhưng ngày nay đó là vai trò của truyền thông và tài chính.
Kết quả cuộc khảo sát cuối năm 2010 của Tập đoàn Masso Group cho thấy, gần 90% công ty được hỏi cho biết có thực hiện các hoạtđoộng IR nhưng dưới hình thức kiêm nhiệm hoặc thông qua ban quản lý cổ đông. Rất ít DN có IROđúng nghĩa (dưới 30% công ty tham gia khảo sát trả lời) và điều đáng nói là ngân sách dành cho hoạt động này hàng năm không đáng kể. Gần một nửa số công ty được hỏi cho biết, mỗi năm họ chỉ dành khoảng 5.000 -30.000 USD cho hoạt động IR.
Ông Bùi Quang Nam, Giám đốc Tài chính Công ty Cà phê Trung Nguyên cho rằng, hiện nay thị trường chứng khoán sụt giảm nghiêm trọng nên hoạt động IR cần được đẩy mạnh hơn nữa.
“Làm IR không chỉ để bán cho nhà đầu tư mà cho cả người tiêu dùng. Các DN muốn tìm NĐT, muốn tìm nguồn vốn cần phải làm IR”, ông Nam nói.
Theo ông Nguyễn Đăng Duy Nhất, Giám đốc Điều hành Global Elite, các chuyên viên IR ở Việt Nam đa phần là các nhân viên bộ phận truyền thông kiêm nhiệm hoặc chuyên viên marketing chuyển qua.
Vì thế, những người làm PR và marketing chỉ cần hiểu về tài chính là có thể kiêm nhiệm công việc này. Các doanh nhân tham gia tọa đàm thống nhất, trong thời điểm khó khăn về nguồn vốn như hiện nay, vai trò của các IRO là phải làm minh bạch thông tin.
“Thiếu vốn, các NĐT mất niềm tin, mà nếu không minh bạch thì càng làm họ mất niềm tin hơn. Và trong giai đoạn này, ngoài quan hệ với NĐT trong nước, các IRO phải biết quan hệ với NĐT nước ngoài để tìm nguồn vốn”, ông Nam khuyên.

Lợi thế lớn nhất của Internet Marketing

Hoạt động thường xuyên nhất khi truy cập Internet là đọc tin tức và sử dụng các công cụ tìm kiếm. Bên cạnh đó, Internet cũng thường được sử dụng để nghiên cứu trong học tập và phục vụ cho công việc. Các hoạt động như giải trí, giao tiếp cũng chiếm phần lớn hoạt động của người dùng Internet.


Lợi ích của Internet Marketing (online marketing, digital marketing) hiện nay như thế nào? Ở Việt Nam lĩnh vực này phát triển ra sao? 
Theo thông báo số liệu phát triển Internet Việt Nam của trung tâm internet Việt Nam VNNIC tính đến tháng 1 năm 2011 Việt Nam có 27.194.870 người dùng Internet. Tỉ lệ dân số sử dụng Internet là 31.5%. Internet mới chỉ thực sự phát triển ở VN một vài năm trở lại đây. Hầu hết các học sinh ngày nay đều được học tin học, như vậy có thể tin chắc trong tương lai trên 90% dân số VN sẽ biết sử dụng internet.
Các kênh truyền thông như tivi hay báo in đang dần mất đi ưu thế khi bất kì một cái gì mọi người cũng có thể tìm thấy trên internet. Từ mua bán, giải trí, học tập… Vì vậy Internet Marketing sẽ là một lợi thế cho những ai biết nắm lấy cơ hội. Sản phẩm, dịch vụ của bạn sẽ được nhiều người biết đến chỉ với một click chuột. Bạn có thể tự tạo cho mình một cửa hàng Online mà không hề tốn một khoản chi phí nào, bạn có thể đưa sản phẩm, dịch vụ của mình đến với hàng triệu người tiêu dùng với một mức chi phí Internet Marketing nhỏ hơn nhiều lần so với các kênh truyền thông truyền thống.
Việt Nam: Người dùng internet tăng nhanh nhất khu vực
Theo báo cáo NetCitizens Việt Nam 2011 do hãng Cimigo vừa công bố, Việt Nam có khoảng 26,8 triệu người đang sử dụng Internet, với tỷ lệ 31% dân số.
Trong giai đoạn 2000 – 2010, tỷ lệ tăng tưởng người sử dụng internet tại Việt Nam đạt mức 12.035%. Theo đó, tỷ lệ người sử dụng Internet tại nước ta đang có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực.
Báo cáo này được thực hiện thông qua cuộc khảo sát hơn 3.400 người sử dụng internet tại 12 thành phố ở Việt Nam, và được triển khai trong tháng 11-12/2010, với phương pháp phỏng vấn qua điện thoại.
Tại Việt Nam, khoảng 62% người sử dụng truy cập Internet mỗi ngày, và trung bình mỗi ngày họ dành khoảng 2 giờ 20 phút trên internet. Ở những thành phố lớn, người dân truy cập Internet thường xuyên hơn so với thành phố nhỏ. Theo báo cáo, người dùng ở Hà Nội dành hơn 160 phút mỗi ngày để truy cập Internet, cao hơn so với TP.HCM (dành 150 phút mỗi ngày để truy cập Internet).
Hoạt động thường xuyên nhất khi truy cập Internet là đọc tin tức và sử dụng các công cụ tìm kiếm. Bên cạnh đó, Internet cũng thường được sử dụng để nghiên cứu trong học tập và phục vụ cho công việc. Các hoạt động như giải trí, giao tiếp cũng chiếm phần lớn hoạt động của người dùng Internet.
Tuy nhiên, chỉ có khoảng 40% người sử dụng Internet ở Việt Nam từng truy cập vào một website mua bán hay đấu giá trực tuyến, và chỉ có khoảng 10% từng sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Bản báo cáo còn cho biết, việc mua sắm trực tuyến được sử dụng thường xuyên hơn ở các thành phố phía Bắc và chủ yếu phổ biến ở nhóm tuổi từ 25 – 34.